Bài báo quốc tế ‘ngáng đường’ ứng viên giáo sư, phó giáo sư

0
14

Năm 2018 không thực hiện việc xét công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư (GS, PGS). Đợt xét năm 2017, số ứng viên cho các chức danh này lên tới 1.226 người, nghĩa là số ứng viên năm nay chưa bằng một nửa so với năm 2017.

Xã hội nhân văn, Luật, Quốc phòng, An ninh ít ứng viên

Đến ngày 28-8, Hội đồng Giáo sư nhà nước đã nhận được 557 ứng viên đề nghị xét công nhận GS, PGS. Trong đó có một số ngành, liên ngành có số ứng viên được đề nghị công nhận nhiều như liên ngành hóa học – công nghệ thực phẩm, vật lý, y học, kinh tế…

Cụ thể, hội đồng giáo sư ngành y học có 11 ứng viên GS, 37 ứng viên PGS. Hội đồng giáo sư ngành kinh tế có 7 ứng viên GS, 35 ứng viên PGS. Hội đồng giáo sư ngành toán học có 8 ứng viên GS, 26 ứng viên PGS. Hội đồng giáo sư ngành dược học có 6 ứng viên GS, 9 ứng viên PGS. Hội đồng giáo sư ngành vật lý có 11 ứng viên GS, 35 ứng viên PGS…

Nhưng một số ngành chỉ có 1 ứng viên đề nghị công nhận chức danh GS như ngành luật học, liên ngành luyện kim, sử học – khảo cổ học – dân tộc học, ngành tâm lý học, liên ngành văn hóa – nghệ thuật – thể dục thể thao, ngành văn học.

Có ngành không có ứng viên nào xét công nhận chức danh GS là giao thông vận tải, giáo dục học, ngôn ngữ học… Các khối xã hội nhân văn, an ninh, quốc phòng, luật… cũng là những ngành có số lượng ứng viên PGS thấp.

Năm 2019 là năm đầu tiên thực hiện xét công nhận chức danh GS, PGS theo quyết định số 37/2018/QĐ-TTg quy định tiêu chuẩn, thủ tục xét công nhận đạt tiêu chuẩn và bổ nhiệm chức danh GS, PGS; thủ tục xét hủy bỏ công nhận chức danh và miễn nhiệm chức danh GS, PGS của Thủ tướng Chính phủ.

“Tiêu chuẩn xét công nhận chức danh GS, PGS mới cao hơn nhiều quy định cũ. Có thể đây là lý do khiến cho số lượng ứng viên năm nay giảm mạnh” – PGS.TS Trần Anh Tuấn giải thích.

Khó khăn ở công bố quốc tế

Theo ông Trần Anh Tuấn, theo quy định mới, ứng viên phải là tác giả chính của 3 bài báo quốc tế (với GS) và 2 bài báo quốc tế (với PGS). Việc công bố quốc tế trên thực tế đã qua cũng cho thấy khối khoa học tự nhiên, kỹ thuật công nghệ vượt trội hơn hẳn các khối khoa học xã hội nhân văn, hay văn hóa – nghệ thuật… Và khi tiêu chuẩn “công bố quốc tế” được tăng mức thì những chuyển dịch cũng thấy rõ nhất ở các khối hạn chế trong “công bố quốc tế”.

Những nguyên nhân dẫn tới công bố quốc tế của một số khối ngành thấp đã từng được phân tích mổ xẻ, nhưng nguyên nhân chính, theo nhiều người, vẫn nằm ở chính đặc thù các ngành.

Ví dụ như ngành xã hội nhân văn, các nghiên cứu gắn với đặc trưng văn hóa xã hội, các vấn đề của Việt Nam nên tính hội nhập, khả năng để được đánh giá, công nhận quốc tế sẽ khó khăn hơn. Nhưng bên cạnh đó cũng có những yếu tố khác như trình độ tiếng Anh, khả năng tham gia môi trường học thuật, tham dự hội thảo quốc tế của các ứng viên một số khối ngành bị hạn chế.

Tuy nhiên, cũng theo ông Trần Anh Tuấn, trình độ ngoại ngữ của các ứng viên năm nay tốt hơn hẳn, nhiều người học ở nước ngoài về. Ở khối khoa học tự nhiên, kỹ thuật – công nghệ, số lượng công bố quốc tế tăng hơn các năm trước.

Theo: Tuoitre.vn

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here